Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Định đang triển khai chương trình xây dựng thương hiệu cho sản phẩm gạo Tám Xoan Hải Hậu cổ truyền có nguồn gốc tại địa phương, qua đó hỗ trợ kỹ thuật, vốn và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.
Sản lượng gạo Tám Xoan Hải Hậu hiện không ổn định. Người nông dân sản xuất gạo đặc sản không có lãi bằng các giống lúa mới năng suất cao nên không mấy hào hứng sản xuất và bảo tồn giống lúa này. Vì vậy, Bộ môn Hệ thống Nông nghiệp Việt Nam thuộc Viện đã giúp nông dân Hải Hậu cấy thử nghiệm 4 giống lúa Tám Xoan theo các công thức khác nhau và đã xác định được lúa cấy ở 2 xã Hải Toàn và Hải Phong cho hiệu quả cao.
Ngoài ra, Bộ môn này đã thành lập Hiệp Hội sản xuất chế biến và thương mại tiêu thụ sản phẩm gạo Tám Xoan trên địa bàn huyện Hải Hậu với các hoạt động chính như thu mua thóc, chế biến, đóng gói, tiếp thị và tiêu thụ gạo.
Trong thời gian tới, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục giúp huyện Hải Hậu thiết lập hệ thống biểu mẫu để quản lý sản phẩm ở từng hộ gia đình. Huyện Hải Hậu cũng sẽ thành lập bản đồ sinh thái vùng sản xuất, lập quy trình chăm sóc, thu hoạch, bảo quản theo các chỉ tiêu về chất lượng.
(Theo TTXVN)
Xuất khẩu lúa gạo Việt nam, giá cả thị trường lúa gạo, năng suất lúa gạo, sản xuất kinh doanh lúa gạo, giao gạo tận nhà, đại lý gạo, mua bán gạo, cửa hàng gạo, gao online, giống lúa gạo cao sản, tiệm bán gạo
Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009
Thương hiệu gạo Nàng Thơm Chợ Đào
Có phải chúng ta đã để mất thương hiệu gạo Nàng Thơm Chợ Đào? Trần Thị Hoa, Cái Bè, Tiền Giang
Theo tác giả Việt kiều Trần Công Nhung thì câu chuyện này là như sau: "Ngày nay trên thị trường có quá nhiều loại gạo, đếm không xuể: Gạo Tám Thái, Lài Sữa, Huyết Rồng, Thơm Lài, Thơm Mỹ, Thơm Ðài Loan, gạo Sơ Ri, Lúa Miên, Chim Rơi...vv. Khó mà nói cho hết hương vị khác nhau của các loại gạo. Nhưng gạo Nàng Thơm Chợ Ðào vẫn là gạo nổi tiếng nhất đối với người Việt quốc nội cũng như hải ngoại.
"Gạo Cần Ðước nước Ðồng Nai" là câu cửa miệng xưa nay để ca ngợi đặc sản vùng này. Nhưng ở đời có gì là tuyệt đối, có gì giữ mãi được giá trị chính thống! Nàng Thơm Chợ Ðào giả đã làm nhiều người thất vọng, dù mua ngay tại Chợ Ðào. Một bài báo kể chuyện một bà cán bộ về tận Chợ Ðào (Cần Đước - Long An) mua gạo Nàng Thơm, khi nấu lên, cơm nhạt hơn gạo "nàng thường". Một người sành sỏi nói với tôi rằng, hạt gạo Nàng Thơm Chợ Ðào có điểm trắng đục pha hồng nằm ở giữa, người địa phương gọi là "hột lựu", và chỉ gạo vùng Mỹ Lệ mới có, Nàng Thơm nơi khác thì không. Sao có chuyện lạ đó, đến nay vẫn chưa ai trả lời được.
Được biết, toàn xã Mỹ Lệ có chừng 1.000 ha trồng lúa Nàng Thơm, nhưng diện tích để trồng đúng loại lúa khó tính này, cũng chỉ 400 ha. Nàng Thơm trở nên quí hiếm là điều dễ hiểu. Gạo Nàng Thơm Chợ Ðào dưới thời Vua Minh Mạng cũng được xếp vào loại "gạo tiến Vua". Người ta còn kể ở HongKong có tiệm cơm của người Tàu Chợ Lớn, đắt khách nhờ treo biển "Cơm Gạo Nàng Thơm Chợ Ðào".
Nàng Thơm Chợ Ðào có giá như thế nên ngay cả nơi không làm ra gạo Chợ Ðào cũng đăng ký xin độc quyền thương hiệu gạo này. Theo báo Lao Ðộng vừa rồi Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp giấy chứng nhận cho Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Mỹ Lệ được độc quyền nhãn hiệu "Gạo Nàng Thơm Chợ Ðào" thì phát hiện thương hiệu này đã được chính phủ Mỹ cấp cho công ty Cong Nguyen Inc. ở Oklahoma từ năm 2002. Sở KH-CN tỉnh Long An định nhờ một văn phòng luật sư Mỹ kiện lấy lại thương hiệu. Nhưng phía luật sư cho biết lệ phí 50 nghìn đô mà không chắc thắng.
Dư luận lại cho rằng gạo Chợ Ðào sản lượng mỗi năm chỉ 200 nghìn tấn chưa đủ dùng trong nước, vậy có thắng cũng chẳng làm gì!”. Chúng ta nên suy nghĩ thế nào về phản ánh trên đây của một trí thức Việt kiều?
Theo tác giả Việt kiều Trần Công Nhung thì câu chuyện này là như sau: "Ngày nay trên thị trường có quá nhiều loại gạo, đếm không xuể: Gạo Tám Thái, Lài Sữa, Huyết Rồng, Thơm Lài, Thơm Mỹ, Thơm Ðài Loan, gạo Sơ Ri, Lúa Miên, Chim Rơi...vv. Khó mà nói cho hết hương vị khác nhau của các loại gạo. Nhưng gạo Nàng Thơm Chợ Ðào vẫn là gạo nổi tiếng nhất đối với người Việt quốc nội cũng như hải ngoại.
"Gạo Cần Ðước nước Ðồng Nai" là câu cửa miệng xưa nay để ca ngợi đặc sản vùng này. Nhưng ở đời có gì là tuyệt đối, có gì giữ mãi được giá trị chính thống! Nàng Thơm Chợ Ðào giả đã làm nhiều người thất vọng, dù mua ngay tại Chợ Ðào. Một bài báo kể chuyện một bà cán bộ về tận Chợ Ðào (Cần Đước - Long An) mua gạo Nàng Thơm, khi nấu lên, cơm nhạt hơn gạo "nàng thường". Một người sành sỏi nói với tôi rằng, hạt gạo Nàng Thơm Chợ Ðào có điểm trắng đục pha hồng nằm ở giữa, người địa phương gọi là "hột lựu", và chỉ gạo vùng Mỹ Lệ mới có, Nàng Thơm nơi khác thì không. Sao có chuyện lạ đó, đến nay vẫn chưa ai trả lời được.
Được biết, toàn xã Mỹ Lệ có chừng 1.000 ha trồng lúa Nàng Thơm, nhưng diện tích để trồng đúng loại lúa khó tính này, cũng chỉ 400 ha. Nàng Thơm trở nên quí hiếm là điều dễ hiểu. Gạo Nàng Thơm Chợ Ðào dưới thời Vua Minh Mạng cũng được xếp vào loại "gạo tiến Vua". Người ta còn kể ở HongKong có tiệm cơm của người Tàu Chợ Lớn, đắt khách nhờ treo biển "Cơm Gạo Nàng Thơm Chợ Ðào".
Nàng Thơm Chợ Ðào có giá như thế nên ngay cả nơi không làm ra gạo Chợ Ðào cũng đăng ký xin độc quyền thương hiệu gạo này. Theo báo Lao Ðộng vừa rồi Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp giấy chứng nhận cho Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Mỹ Lệ được độc quyền nhãn hiệu "Gạo Nàng Thơm Chợ Ðào" thì phát hiện thương hiệu này đã được chính phủ Mỹ cấp cho công ty Cong Nguyen Inc. ở Oklahoma từ năm 2002. Sở KH-CN tỉnh Long An định nhờ một văn phòng luật sư Mỹ kiện lấy lại thương hiệu. Nhưng phía luật sư cho biết lệ phí 50 nghìn đô mà không chắc thắng.
Dư luận lại cho rằng gạo Chợ Ðào sản lượng mỗi năm chỉ 200 nghìn tấn chưa đủ dùng trong nước, vậy có thắng cũng chẳng làm gì!”. Chúng ta nên suy nghĩ thế nào về phản ánh trên đây của một trí thức Việt kiều?
Gạo Nàng thơm Chợ Đào: Lại nhóm lên cuộc chiến quyền sở hữu thương hiệu
Cứ tưởng rằng, với những mặt hàng có khối lượng "khuynh đảo" như con tôm, con cá da trơn, hay nước mắm Phú Quốc... dễ đẩy đến tình trạng tranh chấp quốc tế về giá cả, thương hiệu... như diễn ra căng thẳng liên tục trong thời gian qua.
Còn với gạo Nàng thơm Chợ Đào, một loại nông sản độc nhất vô nhị, chỉ khoanh lại trên diện tích gieo trồng không đến 400 hecta (nếu canh tác ngoài phạm vi này, khác tính chất thổ nhưỡng thì dù là giống gốc vẫn không còn cái hương vị đặc thù Chợ Đào có hàng thế kỷ vang danh), vậy mà mới đây, người ta lại phát hiện ở tận nước Mỹ cũng có nhãn hiệu độc quyền "Nàng hương Chợ Đào"...
Gạo Chợ Đào trên đất Mỹ...
Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam vừa cấp Giấy chứng nhận số 67283 cho Họp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp (HTX DVNN) xã Mỹ Lệ (huyện Cần Đước- tỉnh Long An) được độc quyền nhãn hiệu hàng hoá "Gạo Nàng thơm Chợ Đào".
Thế nhưng trước đó, nhãn hiệu "Nàng hương Chợ Đào" đã được đăng ký độc quyền tại thị trường Mỹ cũng cho sản phẩm gạo thuộc nhóm 30, được Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ cấp giấy chứng nhận số 2531726 ngày 22/1/2002 cho Công ty Cao Nguyen,Inc.CORPORATION OKLAHOMA.
Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Long An, trong quá trình làm thủ tục để được chứng nhận độc quyền nhãn hiệu hàng hóa "Gạo Nàng thơm Chợ Đào" cho HTX DVNN xã Mỹ Lệ, sở đã phát hiện ra sự cố này.
Sở đã nhờ Công ty Sở hữu Công nghiệp liên hệ với một văn phòng luật sư ở Mỹ để nhờ họ làm đại diện khởi kiện, yêu cầu Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ hủy bỏ giấy chứng nhận của Cao Nguyen, sau đó doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiến hành đăng ký ở Mỹ.
Đại diện văn phòng luật sư Mỹ trả lời rằng họ chưa thể nói trước về khả năng thắng kiện trong vụ này vì họ cần có thêm thông tin và chứng cứ mà phía Việt Nam phải cung cấp, họ cho biết chi phí cho một vụ kiện như thế ít nhất cũng phải 50.000 USD.
Trong lịch sử tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ trên thế giới đã từng xảy ra một vụ giống hệt với hoàn cảnh của thương hiệu "Chợ Đào" hiện nay. Đó là vụ gạo Bastami của Âận Độ bị một công ty của Mỹ đăng ký độc quyền nhãn hiệu vào năm 1997. Bastami là một lọai gạo dài và thơm (gần giống với gạo Nàng thơm của Việt Nam) được trồng ở một số địa phương thuộc Ấn Độ và Pakistan, được người dân Âận Độ phong danh "Bà chúa của hương thơm".
Gạo Bastami được xuất khẩu chủ yếu qua thị trường Mỹ, một số qua Châu Âu và các nước vùng Vịnh. Năm 1994, một công ty của Mỹ tên là Rice Tech Inc. đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho 20 hạng mục gồm giống, hạt, phương pháp gieo trồng, thu hoạch và cách nấu loại gạo mang tên Bastami.
Giấy chứng nhận độc quyền nhãn hiệu.
Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ đã cấp bằng sáng chế "Bà chúa hương thơm" cho Rice Tech Inc. vào năm 1997. Với bằng sáng chế ấy, việc xuất khẩu gạo Bastami của Ấn Độ và Pakistan sang Mỹ bị đe dọa. Chính phủ Ấn Độ đã nhanh chóng nhận ra tính nghiêm trọng của vấn đề, họ đã khéo léo vận động cộng đồng thế giới lên tiếng ủng hộ trong việc đòi lại thương hiệu Bastami cho Ấn Độ.
Với rất nhiều những nỗ lực, những biện pháp và những chi phí tốn kém, cuối cùng thương hiệu "Bà chúa hương thơm" đã đuợc trả lại cho nhân dân Ấn Độ và Pakistan.
Thổi bùng cuộc chiến?
Về tính chất thì 2 vụ tranh chấp nhãn hiệu "Bà chúa hương thơm" và "Nàng thơm Chợ Đào" hoàn toàn giống nhau. Nhưng về quy mô thì 2 vụ khác biệt nhau một trời một vực. Ấn Độ và Pakistan xuất khẩu hàng trăm ngàn tấn gạo Bastami mỗi năm.
Còn lúa Nàng thơm Chợ Đào chỉ trồng được trên một diện tích khoảng 400 hecta ở khu vực Chợ Đào xã Mỹ Lệ với tổng sản lương hàng năm chưa tới 2.000 tấn lúa (khoảng 1.000 tấn gạo). Với sản lượng ít ỏi ấy, gạo Nàng thơm Chợ Đào hiện chỉ tiêu thụ nội địa.
Vấn đề đặt ra là tỉnh Long An và HTX DVNN xã Mỹ Lệ có nên đeo theo vụ kiện này hay không. Đối diện với hệ thống luật pháp rất phức tạp của Mỹ, những chi phí mướn luật sư và đi lại giải quyết vụ kiện sẽ lên đến hàng trăm ngàn đô la Mỹ, khả năng thắng kiện là không thể nói trước...
Đó là những vấn đề lớn đặt ra cho vụ tranh chấp này. Giả sử người nông dân Chợ Đào thắng kiện, thì hiệu quả về kinh tế mang lại cũng không đáng là bao so với chi phí và công sức bỏ ra cho vụ kiện, vì sản lượng gạo Nàng thơm Chợ Đào quá khiêm tốn.
Ông Nguyễn Tấn Vui, Chủ nhiệm HTX DVNN xã Mỹ Lệ, là đơn vị sở hữu nhãn hiệu Nàng thơm Chợ Đào, một đơn vị kinh tế cấp xã, cho biết HTX của ông hoàn toàn không có khả năng về mọi mặt (tài chánh, kiến thức...) để theo đuổi vụ kiện giành lại nhãn hiệu "Chợ Đào" trên đất Mỹ.
Không ai dám nói ngoài Mỹ có còn nước nào đã hoặc sẽ cấp độc quyền nhãn hiệu "Chợ Đào" cho công dân họ nữa không. Số phận của loại gạo đặc sản phương Nam dùng để tiến vua khi xưa, đã đi vào ca dao "Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai", xem ra cũng chịu lắm truân chuyên như số phần của người con gái tên Thơm trong truyền thuyết về sự ra đời của giống lúa quý ấy.
Nguyễn Phấn Đấu
Còn với gạo Nàng thơm Chợ Đào, một loại nông sản độc nhất vô nhị, chỉ khoanh lại trên diện tích gieo trồng không đến 400 hecta (nếu canh tác ngoài phạm vi này, khác tính chất thổ nhưỡng thì dù là giống gốc vẫn không còn cái hương vị đặc thù Chợ Đào có hàng thế kỷ vang danh), vậy mà mới đây, người ta lại phát hiện ở tận nước Mỹ cũng có nhãn hiệu độc quyền "Nàng hương Chợ Đào"...
Gạo Chợ Đào trên đất Mỹ...
Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam vừa cấp Giấy chứng nhận số 67283 cho Họp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp (HTX DVNN) xã Mỹ Lệ (huyện Cần Đước- tỉnh Long An) được độc quyền nhãn hiệu hàng hoá "Gạo Nàng thơm Chợ Đào".
Thế nhưng trước đó, nhãn hiệu "Nàng hương Chợ Đào" đã được đăng ký độc quyền tại thị trường Mỹ cũng cho sản phẩm gạo thuộc nhóm 30, được Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ cấp giấy chứng nhận số 2531726 ngày 22/1/2002 cho Công ty Cao Nguyen,Inc.CORPORATION OKLAHOMA.
Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Long An, trong quá trình làm thủ tục để được chứng nhận độc quyền nhãn hiệu hàng hóa "Gạo Nàng thơm Chợ Đào" cho HTX DVNN xã Mỹ Lệ, sở đã phát hiện ra sự cố này.
Sở đã nhờ Công ty Sở hữu Công nghiệp liên hệ với một văn phòng luật sư ở Mỹ để nhờ họ làm đại diện khởi kiện, yêu cầu Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ hủy bỏ giấy chứng nhận của Cao Nguyen, sau đó doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiến hành đăng ký ở Mỹ.
Đại diện văn phòng luật sư Mỹ trả lời rằng họ chưa thể nói trước về khả năng thắng kiện trong vụ này vì họ cần có thêm thông tin và chứng cứ mà phía Việt Nam phải cung cấp, họ cho biết chi phí cho một vụ kiện như thế ít nhất cũng phải 50.000 USD.
Trong lịch sử tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ trên thế giới đã từng xảy ra một vụ giống hệt với hoàn cảnh của thương hiệu "Chợ Đào" hiện nay. Đó là vụ gạo Bastami của Âận Độ bị một công ty của Mỹ đăng ký độc quyền nhãn hiệu vào năm 1997. Bastami là một lọai gạo dài và thơm (gần giống với gạo Nàng thơm của Việt Nam) được trồng ở một số địa phương thuộc Ấn Độ và Pakistan, được người dân Âận Độ phong danh "Bà chúa của hương thơm".
Gạo Bastami được xuất khẩu chủ yếu qua thị trường Mỹ, một số qua Châu Âu và các nước vùng Vịnh. Năm 1994, một công ty của Mỹ tên là Rice Tech Inc. đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho 20 hạng mục gồm giống, hạt, phương pháp gieo trồng, thu hoạch và cách nấu loại gạo mang tên Bastami.
Giấy chứng nhận độc quyền nhãn hiệu.
Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ đã cấp bằng sáng chế "Bà chúa hương thơm" cho Rice Tech Inc. vào năm 1997. Với bằng sáng chế ấy, việc xuất khẩu gạo Bastami của Ấn Độ và Pakistan sang Mỹ bị đe dọa. Chính phủ Ấn Độ đã nhanh chóng nhận ra tính nghiêm trọng của vấn đề, họ đã khéo léo vận động cộng đồng thế giới lên tiếng ủng hộ trong việc đòi lại thương hiệu Bastami cho Ấn Độ.
Với rất nhiều những nỗ lực, những biện pháp và những chi phí tốn kém, cuối cùng thương hiệu "Bà chúa hương thơm" đã đuợc trả lại cho nhân dân Ấn Độ và Pakistan.
Thổi bùng cuộc chiến?
Về tính chất thì 2 vụ tranh chấp nhãn hiệu "Bà chúa hương thơm" và "Nàng thơm Chợ Đào" hoàn toàn giống nhau. Nhưng về quy mô thì 2 vụ khác biệt nhau một trời một vực. Ấn Độ và Pakistan xuất khẩu hàng trăm ngàn tấn gạo Bastami mỗi năm.
Còn lúa Nàng thơm Chợ Đào chỉ trồng được trên một diện tích khoảng 400 hecta ở khu vực Chợ Đào xã Mỹ Lệ với tổng sản lương hàng năm chưa tới 2.000 tấn lúa (khoảng 1.000 tấn gạo). Với sản lượng ít ỏi ấy, gạo Nàng thơm Chợ Đào hiện chỉ tiêu thụ nội địa.
Vấn đề đặt ra là tỉnh Long An và HTX DVNN xã Mỹ Lệ có nên đeo theo vụ kiện này hay không. Đối diện với hệ thống luật pháp rất phức tạp của Mỹ, những chi phí mướn luật sư và đi lại giải quyết vụ kiện sẽ lên đến hàng trăm ngàn đô la Mỹ, khả năng thắng kiện là không thể nói trước...
Đó là những vấn đề lớn đặt ra cho vụ tranh chấp này. Giả sử người nông dân Chợ Đào thắng kiện, thì hiệu quả về kinh tế mang lại cũng không đáng là bao so với chi phí và công sức bỏ ra cho vụ kiện, vì sản lượng gạo Nàng thơm Chợ Đào quá khiêm tốn.
Ông Nguyễn Tấn Vui, Chủ nhiệm HTX DVNN xã Mỹ Lệ, là đơn vị sở hữu nhãn hiệu Nàng thơm Chợ Đào, một đơn vị kinh tế cấp xã, cho biết HTX của ông hoàn toàn không có khả năng về mọi mặt (tài chánh, kiến thức...) để theo đuổi vụ kiện giành lại nhãn hiệu "Chợ Đào" trên đất Mỹ.
Không ai dám nói ngoài Mỹ có còn nước nào đã hoặc sẽ cấp độc quyền nhãn hiệu "Chợ Đào" cho công dân họ nữa không. Số phận của loại gạo đặc sản phương Nam dùng để tiến vua khi xưa, đã đi vào ca dao "Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai", xem ra cũng chịu lắm truân chuyên như số phần của người con gái tên Thơm trong truyền thuyết về sự ra đời của giống lúa quý ấy.
Nguyễn Phấn Đấu
Gạo một bụi đỏ Hồng Dân ra thị trường
TT - Sau khi được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học - công nghệ) cấp bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Hồng Dân” cho gạo một bụi đỏ Hồng Dân (Bạc Liêu), ngành nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu đã tổ chức sản xuất và đóng gói loại gạo đặc sản này bán ra thị trường với thương hiệu “Một bụi đỏ Hồng Dân”.
Loại gạo này có màu vàng sẫm hơi ánh đỏ nên người dân quen gọi là “một bụi đỏ”. Gạo nấu lên cho cơm thơm, nở mềm, có hàm lượng tinh bột 85%, protein 8% và 1,5% đạm.
Hiện giống lúa một bụi đỏ Hồng Dân được trồng tập trung ở huyện Hồng Dân và huyện Phước Long (Hồng Dân cũ) của tỉnh Bạc Liêu với diện tích ổn định khoảng 21.000ha.
DUY KHANG
Loại gạo này có màu vàng sẫm hơi ánh đỏ nên người dân quen gọi là “một bụi đỏ”. Gạo nấu lên cho cơm thơm, nở mềm, có hàm lượng tinh bột 85%, protein 8% và 1,5% đạm.
Hiện giống lúa một bụi đỏ Hồng Dân được trồng tập trung ở huyện Hồng Dân và huyện Phước Long (Hồng Dân cũ) của tỉnh Bạc Liêu với diện tích ổn định khoảng 21.000ha.
DUY KHANG
Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009
Festival Lúa Gạo Việt Nam
Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ nhất nhằm tôn vinh nền văn minh lúa nước mà lịch sử đã khẳng định nguồn gốc có từ Đông Nam Á, giới thiệu tiềm năng, thế mạnh sản xuất lúa gạo của Việt Nam, xây dựng thương hiệu lúa gạo Việt Nam ngày càng vững mạnh trên thị trường thế giới.
Dự Lễ khai mạc Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ nhất, tối 28/11 tại thị xã Vị Thanh tỉnh Hậu Giang có nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu; Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban tổ chức Trung ương Hồ Đức Việt; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc; Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu; Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang Nguyễn Phong Quang; các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lão thành cách mạng, lãnh đạo nhiều Bộ, Ban ngành Trung ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đông đảo đồng bào tỉnh Hậu Giang.
Xuất khẩu 70 triệu tấn gạo thu về 20 tỷ USD
Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiệt liệt chào mừng các đại biểu, các vị khách quý, đồng chí, đồng bào dự Festival lúa gạo tại tỉnh Hậu Giang, nơi mà cách đây hàng trăm năm, bên dòng Kinh xáng Xà No-con đường lúa gạo của miền Hậu Giang, đã chuyên chở những chuyến gạo đầu tiên của Việt Nam xuất khẩu
Theo Thủ tướng, Việt Nam có tiềm năng, lợi thế rất lớn về sản xuất lúa gạo. Ngành sản xuất lúa gạo gắn liền với truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, với nền văn minh lúa nước của dân tộc Việt Nam. Cây lúa, hạt gạo có vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống của người Việt Nam.
Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nổi bật là sản xuất lương thực. Trong hơn 20 năm qua, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam đã tăng gấp khoảng 2 lần, hiện nay năng suất bình quân đạt 5,3 tấn/ha một vụ, sản lượng cả năm đạt gần 39 triệu tấn. Sản xuất lúa gạo phát triển đã đưa Việt Nam từ một nước nhiều năm triền miên thiếu lương thực trở thành một nước không những có đủ lương thực cho nhân dân, mà còn xuất khẩu với số lượng trên 70 triệu tấn gạo mang về cho đất nước gần 20 tỷ USD, trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới.
Hoan nghênh tỉnh Hậu Giang đã có sáng kiến và chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, các địa phương và Tổng công ty lương thực miền Nam (VINAFOOD II) cùng các nhà tài trợ tổ chức Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ nhất, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, đây là việc làm rất có ý nghĩa, tạo điều kiện để các nhà sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo, nhà nhập khẩu, phân phối, người tiêu dùng, nhà khoa học gặp gỡ, giao lưu, tìm kiếm những cơ hội hợp tác, liên kết sản xuất kinh doanh.
Đồng thời đây cũng là dịp tiếp tục tôn vinh những giá trị của nền văn minh lúa nước, của cây lúa và người trồng lúa Việt Nam, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh lúa gạo, đẩy mạnh xuất khẩu gạo gắn với xây dựng và quảng bá thương hiệu gạo Việt Nam.
Cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ lực, với sản lượng chiếm trên 90% sản lượng cây lương thực có hạt, liên quan đến việc làm và thu nhập của khoảng 80% số hộ nông dân Việt Nam. Lúa gạo hiện cung cấp tới 70% năng lượng trong khẩu phần ăn của người dân. Vì vậy cây lúa hạt gạo luôn có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.
Khắc phục tình trạng “được mùa, mất giá”
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng tiềm năng phát triển sản xuất kinh doanh lúa gạo của Việt Nam còn rất lớn, nhất là khả năng tăng năng suất, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng và hiệu quả.
Tuy nhiên sản xuất và kinh doanh lúa gạo Việt Nam còn không ít bất cập, yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, chưa đảm bảo đủ giống tốt, cơ giới hoá trong sản xuất còn thấp, tỷ lệ thất thoát còn cao; tổ chức canh tác và thu mua, chế biến, bảo quản và kinh doanh tiêu thụ còn nhiều yếu kém. Đời sống người trồng lúa còn nhiều khó khăn. Sản xuất kinh doanh lúa gạo của Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhất là thiên tai, dịch bệnh, thị trường xuất khẩu, biến đối khí hậu đặc biệt là nước biển dâng mà Việt Nam được dự báo là một trong số ít các nước chịu ảnh hưởng nặng nề.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi bà con nông dân, các nhà khoa học, các doanh nghiệp, cùng với Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị cùng nhau nỗ lực khắc phục những hạn chế và yếu kém, mà trước mắt khắc phục tình trạng “được mùa, mất giá”, phát huy tốt nhất tiềm năng lợi thế để phát triển mạnh, bền vững, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh lúa gạo, cải thiện tốt hơn đời sống của người trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và xây dựng nông thôn ngày càng văn minh hiện đại. Đồng thời chủ động xây dựng và tích cực triển khai kế hoạch hành động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.
Nhân dịp này, Thủ tướng chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự hợp tác giúp đỡ to lớn hơn nữa của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và phát triển lúa gạo nói riêng của Việt Nam.
"Đây cũng chính là việc làm góp phần đảm bảo an ninh lương thực thế giới", Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh.
Festival Lúa gạo Việt Nam lần thứ nhất được từ 28/11 đến 01/12/2009 với chủ đề vì sự phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Festival thu hút nhiều tỉnh, thành phố và các đơn vị sản xuất, kinh doanh ngành lúa gạo và phục vụ nhu cầu sản xuất lúa gạo cả nước tham gia.
Festival có sự tham dự của đại diện Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), nhiều nước có quan hệ mua bán lúa gạo với Việt Nam, đến giới thiệu về kỹ thuật sản xuất lúa gạo, tham dự hội thảo, tham quan, tìm hiểu cây lúa nước, tìm hiểu thị trường và ký kết mua bán.
Festival có gần 20 hoạt động, trong đó có các hoạt động chính gồm: Lễ hội khai mạc, bế mạc giới thiệu giá trị nghệ thuật đặc trưng của sông nước Cửu Long gắn văn minh lúa nước và bản sắc văn hoá mỗi vùng miền của đất nước, 4 cuộc hội thảo gồm: hội thảo quốc tế “Lúa gạo Việt Nam - Xuất khẩu và hội nhập”, hội thảo về “Xúc tiến đầu tư”, hội thảo về “Kinh xáng Xà No - Con đường lúa gạo miền Hậu Giang”, hội thảo về “Cây lúa nước Việt Nam”.
Có 550 gian hàng tham gia triển lãm gồm 270 gian triển lãm của các doanh nghiệp ngành kinh doanh lương thực và doanh nghiệp có sản phẩm phục vụ sản xuất lúa gạo, 92 gian triển lãm của các tỉnh, thành phố, 188 gian hàng Việt Nam về nông thôn.
Festival được sự chỉ đạo và bảo trợ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Hiệp hội Lương thực Việt Nam, UBND thành phố Hà Nội, UBND thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh, thành phố và được sự tài trợ của Tổng Công ty Lương thực Miền Nam, Ngân hàng Thương mại Thương mại Cổ phần Liên Việt, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Công ty Xây dựng công trình 585, Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ.
Việt Đông
Sản xuất lúa gạo
Khoảng 5 năm gần đây, xuất khẩu gạo của Việt Nam liên tục tăng và đứng thứ hai trên thế giới. Năm 2005, cả nước xuất trên 5,2 triệu tấn gạo thu về 1,399 tỷ USD. Giá trị hạt gạo từng bước được nâng lên nhưng thực tại vẫn còn thấp hơn Thái Lan bình quân khoảng 40 USD/tấn.
Khó khăn về giống
Để nâng cao chất lượng hạt gạo Việt Nam, mới đây Bộ NN- PTNT chủ trương sản xuất 1 triệu tấn lúa chất lượng cao (CLC) phục vụ xuất khẩu. Theo đó, 7 tỉnh ĐBSCL được chọn làm vùng chuyên canh gồm: An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang và TP Cần Thơ, mỗi tỉnh quy hoạch 30.000ha và thực hiện ngay trong vụ đông xuân 2006-2007.
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Diệp Kỉnh Tần cho rằng, để chương trình đạt kết quả cao, các địa phương phải chuẩn bị ngay từ bây giờ. Tất cả các khâu như giống, quy hoạch vùng chuyên canh, hợp đồng bao tiêu… cần làm gấp rút.
Thạc sĩ Trần Quang Củi, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Kiên Giang tỏ ra phấn khích với chương trình này, bởi làm được vùng chuyên canh sẽ nâng chất lượng hạt gạo lên rõ rệt và giá trị xuất khẩu sẽ tăng theo. Từ suy nghĩ đó, Kiên Giang chọn 5 huyện, thành phố triển khai thực hiện 30.000 ha lúa chất lượng cao; tuy nhiên, mới khởi đầu đã gặp trở ngại.
Ông Củi băn khoăn: “Khâu giống hiện đang có vấn đề, các loại giống mà Bộ NN- PTNT đưa ra thì các huyện không có, còn giống hiện có thì lại không cần!”. Theo quy định, các bộ giống phải đảm bảo tiêu chuẩn gạo độ dài tối thiểu 6,2mm, trung bình 6,5mm, hạt trong, xay trắng, đồng đều, tỷ lệ bạc bụng không quá 4%…
Tiến sĩ Phạm Sĩ Tân, Phó Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL nói: “Hiện tại, 3 loại giống có thể sử dụng ngay là IR 64, VND 95-20, OMCS 2000. Bên cạnh đó, tiếp tục thử nghiệm các giống OM 2517, OM 2717, OM 2718, nhưng phải tùy vào nhu cầu của đối tác nhập khẩu”.
Giá sàn bao tiêu là bao nhiêu?
Đây chính vấn đề mà các địa phương lo ngại. Ông Nguyễn Văn Năm, ở Châu Thành (Kiên Giang) bức xúc: “Trồng lúa CLC tốn công và chi phí nhiều hơn lúa thường, công ty không bao tiêu với giá cao thì không ai dám làm”.
Anh Nguyễn Văn Đời, Phó chủ nhiệm HTX nông nghiệp Bình Thành (Lấp Vò, Đồng Tháp) cho rằng: “Chuyện bao tiêu và thu mua theo yêu cầu các công ty khó ai làm được. Họ đưa ra hàng loạt tiêu chuẩn, hạt lép, hạt lẫn, độ ẩm… nông dân không ai biết. Nếu gặp thời điểm lúa rớt giá thì họ “hành dân” đến ngất ngư! Ngoài ra, công ty còn buộc phải giao hàng tại kho, nhưng không hỗ trợ chi phí vận chuyển thì HTX đành chịu!”.
Sở NN-PTNT Tiền Giang tính toán, 30.000ha lúa CLC sẽ quy hoạch ở 5 huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo và Gò Công Tây. Dự kiến chọn những HTX làm đầu mối, nhưng cái khó là giá cả bao tiêu và quy cách thu mua chưa thống nhất thì không thể làm được.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhiều nông dân và các địa phương tỏ ra dè dặt với chương trình 1 triệu tấn lúa CLC. Còn nhớ cách đây vài năm, ngành lương thực triển khai bao tiêu lúa hàng hóa ở ĐBSCL; cuối cùng bỏ nông dân “tự bơi” khi giá lúa rớt!
Mặt khác, cần lưu ý rằng nông dân ĐBSCL có thói quen thu hoạch lúa xong là bán tại ruộng và lấy tiền ngay. Cách làm này, hầu hết các công ty lương thực không theo được, mà chỉ có giới thương lái mới “mua tận nơi và bán tận gốc”. Do đó, vai trò thương lái trong việc thu mua là không thể xem nhẹ.
Trong lúc chúng ta loay hoay với chương trình lúa CLC thì tiến trình hội nhập AFTA và WTO không còn chờ. Giáo sư, tiến sĩ Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL cảnh báo: “Khi hội nhập, gạo thơm của Thái Lan, Ấn Độ… sẽ tràn vào Việt Nam gây khó khăn không nhỏ. Vấn đề cấp bách là phải sản xuất nhiều loại gạo thơm ngon, đủ sức cạnh tranh cả 3 mặt, chất lượng-giá cả-thương hiệu"
(theo SGGP)
Khó khăn về giống
Để nâng cao chất lượng hạt gạo Việt Nam, mới đây Bộ NN- PTNT chủ trương sản xuất 1 triệu tấn lúa chất lượng cao (CLC) phục vụ xuất khẩu. Theo đó, 7 tỉnh ĐBSCL được chọn làm vùng chuyên canh gồm: An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang và TP Cần Thơ, mỗi tỉnh quy hoạch 30.000ha và thực hiện ngay trong vụ đông xuân 2006-2007.
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Diệp Kỉnh Tần cho rằng, để chương trình đạt kết quả cao, các địa phương phải chuẩn bị ngay từ bây giờ. Tất cả các khâu như giống, quy hoạch vùng chuyên canh, hợp đồng bao tiêu… cần làm gấp rút.
Thạc sĩ Trần Quang Củi, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Kiên Giang tỏ ra phấn khích với chương trình này, bởi làm được vùng chuyên canh sẽ nâng chất lượng hạt gạo lên rõ rệt và giá trị xuất khẩu sẽ tăng theo. Từ suy nghĩ đó, Kiên Giang chọn 5 huyện, thành phố triển khai thực hiện 30.000 ha lúa chất lượng cao; tuy nhiên, mới khởi đầu đã gặp trở ngại.
Ông Củi băn khoăn: “Khâu giống hiện đang có vấn đề, các loại giống mà Bộ NN- PTNT đưa ra thì các huyện không có, còn giống hiện có thì lại không cần!”. Theo quy định, các bộ giống phải đảm bảo tiêu chuẩn gạo độ dài tối thiểu 6,2mm, trung bình 6,5mm, hạt trong, xay trắng, đồng đều, tỷ lệ bạc bụng không quá 4%…
Tiến sĩ Phạm Sĩ Tân, Phó Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL nói: “Hiện tại, 3 loại giống có thể sử dụng ngay là IR 64, VND 95-20, OMCS 2000. Bên cạnh đó, tiếp tục thử nghiệm các giống OM 2517, OM 2717, OM 2718, nhưng phải tùy vào nhu cầu của đối tác nhập khẩu”.
Giá sàn bao tiêu là bao nhiêu?
Đây chính vấn đề mà các địa phương lo ngại. Ông Nguyễn Văn Năm, ở Châu Thành (Kiên Giang) bức xúc: “Trồng lúa CLC tốn công và chi phí nhiều hơn lúa thường, công ty không bao tiêu với giá cao thì không ai dám làm”.
Anh Nguyễn Văn Đời, Phó chủ nhiệm HTX nông nghiệp Bình Thành (Lấp Vò, Đồng Tháp) cho rằng: “Chuyện bao tiêu và thu mua theo yêu cầu các công ty khó ai làm được. Họ đưa ra hàng loạt tiêu chuẩn, hạt lép, hạt lẫn, độ ẩm… nông dân không ai biết. Nếu gặp thời điểm lúa rớt giá thì họ “hành dân” đến ngất ngư! Ngoài ra, công ty còn buộc phải giao hàng tại kho, nhưng không hỗ trợ chi phí vận chuyển thì HTX đành chịu!”.
Sở NN-PTNT Tiền Giang tính toán, 30.000ha lúa CLC sẽ quy hoạch ở 5 huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo và Gò Công Tây. Dự kiến chọn những HTX làm đầu mối, nhưng cái khó là giá cả bao tiêu và quy cách thu mua chưa thống nhất thì không thể làm được.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhiều nông dân và các địa phương tỏ ra dè dặt với chương trình 1 triệu tấn lúa CLC. Còn nhớ cách đây vài năm, ngành lương thực triển khai bao tiêu lúa hàng hóa ở ĐBSCL; cuối cùng bỏ nông dân “tự bơi” khi giá lúa rớt!
Mặt khác, cần lưu ý rằng nông dân ĐBSCL có thói quen thu hoạch lúa xong là bán tại ruộng và lấy tiền ngay. Cách làm này, hầu hết các công ty lương thực không theo được, mà chỉ có giới thương lái mới “mua tận nơi và bán tận gốc”. Do đó, vai trò thương lái trong việc thu mua là không thể xem nhẹ.
Trong lúc chúng ta loay hoay với chương trình lúa CLC thì tiến trình hội nhập AFTA và WTO không còn chờ. Giáo sư, tiến sĩ Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL cảnh báo: “Khi hội nhập, gạo thơm của Thái Lan, Ấn Độ… sẽ tràn vào Việt Nam gây khó khăn không nhỏ. Vấn đề cấp bách là phải sản xuất nhiều loại gạo thơm ngon, đủ sức cạnh tranh cả 3 mặt, chất lượng-giá cả-thương hiệu"
(theo SGGP)
Giống Lúa Lai TH3-3 : 10 tỉ đồng !!!
Hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giống lúa trị giá 10 tỉ đồng của PGS-TS Nguyễn Thị Trâm nguyên phó viện trưởng Viện Sinh học nông nghiệp (Trường ĐH Nông nghiệp 1, Hà Nội) với một công ty tư nhân đã khiến xôn xao dư luận. Ở tuổi 66, dù đã nghỉ hưu nhưng PGS-TS Nguyễn Thị Trâm vẫn tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi cho ra những giống lúa mới tốt nhất cho nông dân...
Cả đời gắn với cây lúa nhưng PGS-TS Nguyễn Thị Trâm lại sinh ra trong gia đình mà cả bố mẹ lẫn tám anh chị em không ai theo nghề nông. Học tại Trường ĐH Nông nghiệp và tốt nghiệp năm 1968, bà về công tác ở Viện Cây lương thực và thực phẩm. Chính nơi đây, PGS-TS Nguyễn Thị Trâm đã được cố giáo sư (GS) nông học Lương Định Của hướng dẫn, dìu dắt để có những thành công sau này.
Ngay trong những ngày mới về viện, PGS-TS Nguyễn Thị Trâm đã nghiên cứu, tìm hiểu cho ra đời nhiều giống lúa mới, được phổ biến rộng rãi như NN-9, NN-10, NN-23, NN-75-6... Năm 1985, sau khi học tại Viện Nghiên cứu lúa của Liên Xô (cũ), bà chuyển về Trường ĐH Nông nghiệp 1 làm công các giảng dạy. Nhưng chỉ giảng dạy mà không nghiên cứu thì rất phí kiến thức, nên PGS-TS Nguyễn Thị Trâm vừa lên lớp vừa chia sẻ thời gian cho gia đình, cho cây lúa, bà cùng các cộng sự cho ra đời nhiều giống lúa mới có năng suất cao. Bị thuyết phục bởi sự say mê, tinh thần làm việc nghiêm túc của PGS-TS Nguyễn Thị Trâm, năm 1993, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT lúc đó, ông Nguyễn Công Tạn, đã ký quyết định cử bà đi học tại Trung Quốc, đất nước nổi tiếng với rất nhiều giống lúa lai ba dòng. PGS-TS Nguyễn Thị Trâm cho biết lúc đó bà được cử đi học tại trung tâm lúa lai Hồ Nam, do đích thân GS Viên Long Bình, một nhà nông học nổi tiếng Trung Quốc và thế giới về lúa lai, giảng dạy. Say mê nghiên cứu, lại được tiếp cận với rất nhiều kiến thức quý nên ngay khi về nước, PGS-TS Nguyễn Thị Trâm bắt tay tìm hiểu bí mật công nghệ của lúa lai hai dòng.
Bắt đầu với 9.000 USD
Những ngày đầu (1994), công trình nghiên cứu của PGS-TS Nguyễn Thị Trâm và các cộng sự chỉ được cấp kinh phí 9.000 USD, nhưng khi hiểu rõ tầm quan trọng của công trình, kinh phí Nhà nước cấp cho việc nghiên cứu hoàn thiện giống lúa lai hai dòng ngày càng lớn. Đáp lại sự tin tưởng này, kết quả mà PGS-TS Nguyễn Thị Trâm cùng các cộng sự của bà đạt được nằm ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Dựa vào những kiến thức đã tích lũy qua hàng chục năm nghiên cứu cây lúa cùng những kiến thức quý báu thu nhận được, PGS-TS Nguyễn Thị Trâm đã tìm kiếm trong hàng trăm giống bản địa và ngoại nhập, tiến hành nhiều hướng nghiên cứu khác nhau để thử nghiệm. Cuối cùng bà cũng đã thành công khi tìm ra loại giống thích hợp có loại gien lặn, bất dục đực, di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ - TGMS (thermosensitive genic male sterility). Đây là loại giống bất dục theo nhiệt độ, cụ thể nhiệt độ dưới 24oC thì cây lúa hữu dục, nhiệt độ trên 24oC thì cây lúa bất dục, một đặc điểm rất phù hợp với các thời vụ sản xuất của nông dân đồng bằng sông Hồng. Từ dòng gien mới tìm ra, rất nhiều tổ hợp lúa lai hai dòng “cùng mẹ khác cha” như TH3-4, TH3-5, TH3-11, TH5-1, TH6-3, TH2-3... đã ra đời.
PGS-TS Nguyễn Thị Trâm cùng các cộng sự phát hiện giống lúa lai TH3-3 từ năm 2001, sau hơn bốn năm nghiên cứu, TH3-3 chính thức được công nhận hiệu quả và được cấp chứng nhận bản quyền. PGS-TS Nguyễn Thị Trâm cho biết từ năm 2005 cho đến cuối tháng 5-2008, giống lúa TH3-3 đã được bà cung cấp cho thị trường giống ở nhiều địa phương, đạt kết quả khá cao (từ 600 – 1.000 tấn hạt lai/năm, năng suất năm sau cao hơn năm trước khoảng 20%). Đến nay, diện tích cấy đã tăng lên 20.000 – 30.000 ha. Bên cạnh số lượng 6 tấn giống do bà trực tiếp cung cấp, đã có thêm 21 tấn giống TH3-3 nữa được các công ty giống cây trồng cung cấp được gieo trồng vào vụ mùa năm đó. Để được công nhận là giống cây quốc gia, các sở nông nghiệp đã gửi công văn yêu cầu PGS-TS Nguyễn Thị Trâm phải bảo lãnh kết quả sản xuất cho cả các công ty giống ngang bằng với giống Bắc ưu 64. “Thật đúng là như đánh bạc”- PGS-TS Nguyễn Thị Trâm tâm sự. Đánh bạc, bởi năm đó, hai cơn bão liên tiếp đổ vào Nam Định, nơi giống lúa mới được gieo trồng trên diện tích hơn 1.000 ha. Cơn bão thứ nhất đổ bộ vào ngày 17 và 18-9, trong khi đó chỉ vài ngày trước, bà đã gửi giấy mời Cục Nông nghiệp, Trung tâm Khảo nghiệm định ngày 22-9 tham dự hội nghị đầu bờ để công nhận giống quốc gia. Cả một cánh đồng rộng hơn 140 ha ở xã Nghĩa Hưng, nơi sẽ diễn ra hội nghị, phải chống chọi với gió bão trong hai ngày. May mắn là lúa còn xanh, lại là giống thân lùn nên thiệt hại không đáng kể. Cơn bão thứ hai tràn về đúng vào lúc lúa đã chín. Sau cơn bão này, lúa rụng nhiều nhưng may mắn là kết quả sản xuất đạt 4,2 tấn, hơn gấp đôi sản lượng của giống Bắc ưu 64 trên cùng diện tích gieo trồng.
Và hợp đồng trị giá 10 tỉ đồng
Ông Đoàn Văn Sáu, Giám đốc Công ty TNHH Cường Tân, nơi đã ký hợp đồng mua giống lúa TH3-3 của PGS-TS Nguyễn Thị Trâm với giá 10 tỉ đồng, cho biết sở dĩ ông mua đứt bản quyền TH3-3 với giá kỷ lục là vì ông nhìn thấy tiềm năng rất lớn của giống lúa này với những ưu điểm như: thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, cho chất lượng gạo ngon. Sau mỗi mùa vụ, khách hàng của công ty cũng tăng lên rất nhiều. Ban đầu, hợp đồng mua bản quyền dừng lại ở con số 3 tỉ đồng, sau nâng lên 5 tỉ đồng rồi chốt lại là 10 tỉ đồng vào tháng 6-2008.
Đã vào tuổi cần nghỉ ngơi, nhưng PGS-TS Nguyễn Thị Trâm vẫn làm việc liên tục. Bà bảo, khi còn sức khỏe, còn kiến thức, còn làm việc được thì hãy cứ làm. Nông dân mình nghèo, giúp được họ thoát khỏi nghèo, thực sự là niềm hạnh phúc.
Việt Thanh
Cả đời gắn với cây lúa nhưng PGS-TS Nguyễn Thị Trâm lại sinh ra trong gia đình mà cả bố mẹ lẫn tám anh chị em không ai theo nghề nông. Học tại Trường ĐH Nông nghiệp và tốt nghiệp năm 1968, bà về công tác ở Viện Cây lương thực và thực phẩm. Chính nơi đây, PGS-TS Nguyễn Thị Trâm đã được cố giáo sư (GS) nông học Lương Định Của hướng dẫn, dìu dắt để có những thành công sau này.
Ngay trong những ngày mới về viện, PGS-TS Nguyễn Thị Trâm đã nghiên cứu, tìm hiểu cho ra đời nhiều giống lúa mới, được phổ biến rộng rãi như NN-9, NN-10, NN-23, NN-75-6... Năm 1985, sau khi học tại Viện Nghiên cứu lúa của Liên Xô (cũ), bà chuyển về Trường ĐH Nông nghiệp 1 làm công các giảng dạy. Nhưng chỉ giảng dạy mà không nghiên cứu thì rất phí kiến thức, nên PGS-TS Nguyễn Thị Trâm vừa lên lớp vừa chia sẻ thời gian cho gia đình, cho cây lúa, bà cùng các cộng sự cho ra đời nhiều giống lúa mới có năng suất cao. Bị thuyết phục bởi sự say mê, tinh thần làm việc nghiêm túc của PGS-TS Nguyễn Thị Trâm, năm 1993, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT lúc đó, ông Nguyễn Công Tạn, đã ký quyết định cử bà đi học tại Trung Quốc, đất nước nổi tiếng với rất nhiều giống lúa lai ba dòng. PGS-TS Nguyễn Thị Trâm cho biết lúc đó bà được cử đi học tại trung tâm lúa lai Hồ Nam, do đích thân GS Viên Long Bình, một nhà nông học nổi tiếng Trung Quốc và thế giới về lúa lai, giảng dạy. Say mê nghiên cứu, lại được tiếp cận với rất nhiều kiến thức quý nên ngay khi về nước, PGS-TS Nguyễn Thị Trâm bắt tay tìm hiểu bí mật công nghệ của lúa lai hai dòng.
Bắt đầu với 9.000 USD
Những ngày đầu (1994), công trình nghiên cứu của PGS-TS Nguyễn Thị Trâm và các cộng sự chỉ được cấp kinh phí 9.000 USD, nhưng khi hiểu rõ tầm quan trọng của công trình, kinh phí Nhà nước cấp cho việc nghiên cứu hoàn thiện giống lúa lai hai dòng ngày càng lớn. Đáp lại sự tin tưởng này, kết quả mà PGS-TS Nguyễn Thị Trâm cùng các cộng sự của bà đạt được nằm ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Dựa vào những kiến thức đã tích lũy qua hàng chục năm nghiên cứu cây lúa cùng những kiến thức quý báu thu nhận được, PGS-TS Nguyễn Thị Trâm đã tìm kiếm trong hàng trăm giống bản địa và ngoại nhập, tiến hành nhiều hướng nghiên cứu khác nhau để thử nghiệm. Cuối cùng bà cũng đã thành công khi tìm ra loại giống thích hợp có loại gien lặn, bất dục đực, di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ - TGMS (thermosensitive genic male sterility). Đây là loại giống bất dục theo nhiệt độ, cụ thể nhiệt độ dưới 24oC thì cây lúa hữu dục, nhiệt độ trên 24oC thì cây lúa bất dục, một đặc điểm rất phù hợp với các thời vụ sản xuất của nông dân đồng bằng sông Hồng. Từ dòng gien mới tìm ra, rất nhiều tổ hợp lúa lai hai dòng “cùng mẹ khác cha” như TH3-4, TH3-5, TH3-11, TH5-1, TH6-3, TH2-3... đã ra đời.
PGS-TS Nguyễn Thị Trâm cùng các cộng sự phát hiện giống lúa lai TH3-3 từ năm 2001, sau hơn bốn năm nghiên cứu, TH3-3 chính thức được công nhận hiệu quả và được cấp chứng nhận bản quyền. PGS-TS Nguyễn Thị Trâm cho biết từ năm 2005 cho đến cuối tháng 5-2008, giống lúa TH3-3 đã được bà cung cấp cho thị trường giống ở nhiều địa phương, đạt kết quả khá cao (từ 600 – 1.000 tấn hạt lai/năm, năng suất năm sau cao hơn năm trước khoảng 20%). Đến nay, diện tích cấy đã tăng lên 20.000 – 30.000 ha. Bên cạnh số lượng 6 tấn giống do bà trực tiếp cung cấp, đã có thêm 21 tấn giống TH3-3 nữa được các công ty giống cây trồng cung cấp được gieo trồng vào vụ mùa năm đó. Để được công nhận là giống cây quốc gia, các sở nông nghiệp đã gửi công văn yêu cầu PGS-TS Nguyễn Thị Trâm phải bảo lãnh kết quả sản xuất cho cả các công ty giống ngang bằng với giống Bắc ưu 64. “Thật đúng là như đánh bạc”- PGS-TS Nguyễn Thị Trâm tâm sự. Đánh bạc, bởi năm đó, hai cơn bão liên tiếp đổ vào Nam Định, nơi giống lúa mới được gieo trồng trên diện tích hơn 1.000 ha. Cơn bão thứ nhất đổ bộ vào ngày 17 và 18-9, trong khi đó chỉ vài ngày trước, bà đã gửi giấy mời Cục Nông nghiệp, Trung tâm Khảo nghiệm định ngày 22-9 tham dự hội nghị đầu bờ để công nhận giống quốc gia. Cả một cánh đồng rộng hơn 140 ha ở xã Nghĩa Hưng, nơi sẽ diễn ra hội nghị, phải chống chọi với gió bão trong hai ngày. May mắn là lúa còn xanh, lại là giống thân lùn nên thiệt hại không đáng kể. Cơn bão thứ hai tràn về đúng vào lúc lúa đã chín. Sau cơn bão này, lúa rụng nhiều nhưng may mắn là kết quả sản xuất đạt 4,2 tấn, hơn gấp đôi sản lượng của giống Bắc ưu 64 trên cùng diện tích gieo trồng.
Và hợp đồng trị giá 10 tỉ đồng
Ông Đoàn Văn Sáu, Giám đốc Công ty TNHH Cường Tân, nơi đã ký hợp đồng mua giống lúa TH3-3 của PGS-TS Nguyễn Thị Trâm với giá 10 tỉ đồng, cho biết sở dĩ ông mua đứt bản quyền TH3-3 với giá kỷ lục là vì ông nhìn thấy tiềm năng rất lớn của giống lúa này với những ưu điểm như: thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, cho chất lượng gạo ngon. Sau mỗi mùa vụ, khách hàng của công ty cũng tăng lên rất nhiều. Ban đầu, hợp đồng mua bản quyền dừng lại ở con số 3 tỉ đồng, sau nâng lên 5 tỉ đồng rồi chốt lại là 10 tỉ đồng vào tháng 6-2008.
Đã vào tuổi cần nghỉ ngơi, nhưng PGS-TS Nguyễn Thị Trâm vẫn làm việc liên tục. Bà bảo, khi còn sức khỏe, còn kiến thức, còn làm việc được thì hãy cứ làm. Nông dân mình nghèo, giúp được họ thoát khỏi nghèo, thực sự là niềm hạnh phúc.
Việt Thanh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)