Thứ Hai, 14 tháng 12, 2009

Gạo Việt - (gaoviet, gaovietnam, gaovn)


TT - Mùa hè năm 1989, cảng Sài Gòn đông vui khác thường. Những lô gạo đẫm mồ hôi nông dân Việt đầu tiên chính thức xuất khẩu. Ông Trần Thế, cựu công nhân bốc dỡ cảng, nhớ lại vẫn xúc động: “Khi được lệnh bốc gạo xuống tàu tụi tôi ngạc nhiên lắm. Có người còn hỏi có nhầm lẫn gì không? Trước đó toàn là bốc gạo, bo bo nhập cứu đói từ tàu lên bờ chứ có mấy khi bốc gạo xuống tàu để chở đi đâu”.

Thực tế đến năm 1988 Việt Nam vẫn nhập khẩu lương thực. Ngày 23-8-1989 hạt gạo Việt bắt đầu ra chợ quốc tế.

Những lô gạo xuất khẩu đầu tiên

Nhớ lại lô gạo đầu tiên được mình xuất đi, ông Hoàng Hữu Phước, tổng giám đốc Công ty cổ phần doanh thương Mỹ Á, vẫn vui như mới bán được hàng Năm 1989, ông Phước đang làm phó trưởng đại diện Công ty Cimmco International thuộc Tập đoàn kỹ nghệ Birla (Ấn Độ) chuyên xuất vào VN các sản phẩm như thép, dược liệu, lốp xe tải, nguyên liệu, thiết bị ngành dệt và mua nông sản VN xuất đi các nước. Lúc đó, Chính phủ Ấn Độ giao Birla chỉ đạo Cimmco mua 10.000 tấn gạo 35% tấm của VN. Ông Phước được giao nhiệm vụ tìm kiếm những nhà cung cấp gạo trong nước.

Biết tin Cimmco cần mua gạo VN, rất nhiều công ty từ miền Bắc, Trung, Nam đến liên hệ với ông Phước để bán gạo, thậm chí nhiều công ty còn cử người “đi đêm”. Rốt cuộc ba công ty được chọn cung ứng gạo cho Cimmco là Tổng công ty Xuất nhập khẩu Bộ Thương mại (Generalimex), Công ty Xuất nhập khẩu TP.HCM (Imexco TP.HCM) và Công ty Xuất nhập khẩu Đồng Tháp (Imexco Đồng Tháp) lại là những đơn vị không tiếp xúc trước đó với ông Phước.

Sau khi hợp đồng ký vào ngày 8-7-1989, việc xuất khẩu gạo gặp khó khăn vì nhiều vấn đề phát sinh. Đầu tiên là kỹ thuật thanh toán qua ngân hàng. Đây là một trong những hợp đồng xuất khẩu gạo đầu tiên của VN thanh toán qua tín dụng thư (L/C). Các nước lúc đó còn e ngại về sự bảo đảm của ngân hàng VN. Khi Cimmco mở L/C tại Ngân hàng Ngoại thương VN (Vietcombank), họ yêu cầu phía VN phải mở một tài khoản bảo đảm tại một ngân hàng quốc tế khác. Phải đàm phán mãi công ty đó mới chấp thuận bỏ điều kiện này.

Tuy có thời điểm lượng gạo VN xuất khẩu bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nông nghiệp, lũ lụt, nhưng giai đoạn 1989-2008 Việt Nam xuất khẩu bình quân hằng năm trên 3 triệu tấn gạo, với 205 doanh nghiệp và 128 thị trường. Xuất khẩu gạo đạt 5,2 triệu tấn vào năm 2005. Theo Hiệp hội Lương thực VN, dự kiến năm 2009 xuất gạo đạt 6-6,2 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử xuất khẩu gạo VN.

Ban đầu phía Ấn Độ muốn thuê đơn vị SPS (kiểm dịch) nước ngoài làm. Sau đó ông Phước tác động họ thuê phía VN là Công ty Giám định hàng hóa xuất nhập khẩu Vinacontrol, nhưng với những yêu cầu mà Vinacontrol chưa đáp ứng ngay được. Vì vậy Cimmco phải tổ chức một lớp tập huấn kéo dài một tuần tại khách sạn Majestic để tám thành viên của Vinacontrol gồm lãnh đạo và chuyên viên nghe báo cáo về yêu cầu giám định lô gạo này.

Rồi việc thuê tàu đảm bảo yêu cầu như hầm hàng trước đó không được chở hóa chất là thách thức cho Cimmco trong lúc VN vẫn còn bị Mỹ cấm vận. Sau cả tháng tìm kiếm, Cimmco cũng được tàu Sea Jade, cắm cờ Liberia, tải trọng 10.000 tấn, nhận chở hàng. Và ngày 23-8-1989 đánh dấu sự kiện với hạt gạo Việt đã đến khi tàu Sea Jade rời bến đem theo 10.000 tấn gạo 35% tấm của VN với giá 235 USD/tấn sang Ấn Độ.

20 năm sau nhắc lại chuyến hàng ấy ông Phước vẫn hào hứng: “Cảnh vận chuyển gạo xuống tàu nhộn nhịp làm tôi không bao giờ quên. Trên đất liền, gạo từ các xe tải nối đuôi nhau chuyển xuống, dưới sông sà lan chở gạo từ ĐBSCL áp vào nườm nượp đẩy hàng lên. Mọi người làm việc cả ngày đêm”.

Lực đẩy cho nông nghiệp

Ngày trọng đại đó ở cảng Sài Gòn không được người sản xuất hạt gạo chứng kiến nhưng tin vui đã nhanh chóng xuống nông dân. Ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang, nhớ lại bận đó nhiều nông dân túm tụm hỏi nhau: “Xuất khẩu thiệt hay là tuyên truyền vậy ta? Liệu giống mấy năm đói mà cán bộ lại báo cáo sản xuất dư lúa gạo không?”. Khi tin này được xác nhận và đặc biệt là giá gạo nhích lên rõ, nông dân hồ hởi lắm.

Ông Nhị kể khi còn làm giám đốc Sở Nông nghiệp An Giang, ông đi thực tế thấy nông dân hừng hực khí thế ra ruộng mà vui lây với họ. “Tui nhớ mãi hình ảnh lão nông ở Phú Tân mải mê làm việc bỏ cả nghỉ trưa. Ông đổ mồ hôi san mặt ruộng và làm lại bờ bao nham nhở như cóc gặm hồi còn để trong tập đoàn. Tháng sau tui quay lại thấy thửa ruộng đó đã xanh mướt màu lúa”.

Trên chợ gạo thế giới, sự có mặt bất ngờ của gạo Việt làm nhiều nước ngạc nhiên. Đến năm 1987, VN vẫn còn thiếu lương thực tới mức phải qua Indonesia mượn 100.000 tấn gạo. Ông Võ Hùng Dũng, người giữ chức giám đốc Imexco Đồng Tháp khi đó, hiện là giám đốc VCCI Cần Thơ, cho biết VN bất ngờ xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo năm 1989 đã tác động sâu đến thị trường gạo thế giới. Từ mức giá 250 USD/tấn (gạo 25% tấm), từ tháng 7-1989 giá gạo giảm liên tục, phải đến giữa năm 1990 thị trường gạo thế giới mới hồi phục.

Ở Hậu Giang, thương lái Huỳnh Thị Hồng Lệ kể những ghe hàng xáo nhỏ cũng nhanh chóng được tác động từ xuất khẩu gạo: “Hồi trước chủ yếu chỉ mua gạo nông dân để bán loanh quanh cho người ở phố. Giá gạo lên xuống chút đỉnh tùy vào năng suất và sức tiêu thụ trong nước.

Gạo bán được ra chợ nước ngoài đã kéo giá mua tại đồng từ 350 đồng/kg năm 1989 lên 900 đồng/kg năm 1990 và hơn 1.000 đồng/kg năm 1991”. Bà Lệ kể thêm phong trào nông dân xây nhà gạch, cho con lên thành phố học, rồi tích tụ ruộng đất một phần lớn cũng nhờ hạt gạo đi nước ngoài.

Hành trình hạt gạo Việt ra nước ngoài đã nhanh chóng tác động sâu đến từng thân phận nông dân với thửa ruộng, luống cày. Họ nở nụ cười hứng khởi ra đồng lúc giá gạo tăng lên.

QUỐC VIỆT - TRẦN MẠNH

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2009

Gạo Việt Nam thuộc nhóm 10 mặt hàng bị đe dọa vì biến đổi khí hậu

TTO - Tạp chí Time (Mỹ) đưa ra danh sách top 10 mặt hàng xuất khẩu sẽ gặp nguy hiểm khi các nhà lãnh đạo thế giới không đưa ra được một thỏa thuận giúp cho nhiệt độ của trái đất ngừng tăng vào ngày 18-12. Trong số các mặt hàng này, có gạo Việt Nam.

Mỳ pasta của Ý

Ảnh: Corbis

Các nhà khoa học của Cơ quan Khí tượng (Anh) cảnh báo Ý có thể sớm buộc phải nhập khẩu những vật liệu cơ bản đề sản xuất mì sợi pasta vì biến đổi khí hậu khiến nước này không thể trồng lúa mì ở trong nước được. Nhiệt độ nóng lên và mưa ít hơn tại khu vực Địa Trung Hải khiến những cánh đồng lúa mì ở Ý sẽ bắt đầu giảm dần tính từ năm 2020. Mùa màng có thể gần như biến mất khỏi nước Ý vào cuối thế kỷ 21.

Rượu vang của Pháp

Ảnh: Corbis

Là nơi xuất khẩu những loại rượu danh tiếng lâu đời nhất thế giới, Pháp đang mất đi khí hậu phù hợp cho việc trồng cấy nho. Do hương vị của rượu nơi đây là kết quả của sự cân bằng lượng đường và độ chua a-xít trong những quả nho, cho nên nhiệt độ môi trường phù hợp là yếu tố vô cùng quan trọng.

Nhiệt độ ấm lên sẽ khiến có quá nhiều đường, khiến vị đậm đặc và giống mứt. Nhiều người phục vụ rượu và sản xuất rượu ở Pháp đã viết thư ngỏ gửi tới Tổng thống Pháp Nicholas Sarkozy yêu cầu ông có hành động trước tình trạng biến đổi khí hậu để bảo vệ một trong những thứ quý giá của văn hóa Pháp, hay ít ra cũng bảo vệ nhiệt độ mà những loài nho quý giá này sinh sống.

Mật ong của Argentina

Ảnh: Getty Images

Lượng ong mật đang giảm sút ở mọi nơi, từ California cho tới Pháp. Sau Trung Quốc và Hoa Kỳ, Argentina là nước xuất khẩu mật ong lớn thứ ba trên thế giới, chiếm 22% thị trường toàn cầu.

Thế nhưng những tổ ong nằm ở vị trí thấp ngang mặt nước biển tại quốc gia miền Nam Mỹ này đã bị tác động mạnh vì lũ lụt từ năm 2006. Mùa đông ẩm ướt hơn và mùa hè nhiều mưa hơn cũng làm ong khó ra khỏi tổ và đi kiếm phấn hoa, làm chúng chết đói hoặc suy dinh dưỡng và dễ mắc thêm nhiều chứng bệnh khác. Khi ong biến mất thì nhiều vụ mùa lương thực có thể cũng sẽ biến mất.

Bia của Đức

Ảnh: Corbis

Những vùng sản xuất bia nổi tiếng ở vùng Đông Đức có thể phải chịu sự giảm sút sản lượng do thiếu nước. Nước là thứ sống còn để gieo trồng lúa mạch và cây hoa bia, mà sử dụng những thứ rẻ hơn như ngũ cốc tại Đức là không thể do những quy định chặt chẽ về những gì mà bạn có thể dùng để sản xuất bia.

Những loại cây để tạo ra hương vị bia mọc ở miền bắc đòi hỏi đất ẩm ướt, thời tiết mùa đông giá rét và mùa hè nóng bức. Khi khí hậu ấm lên, những trạng thái khí hậu này biến mất. Liên hiệp châu Âu mới đây đã cấp 9 triệu USD để tạo ra hệ thống tưới giúp cho những nông dân trồng cây hoa bia ở Đức để họ chống chọi với mùa hè nóng bức đang đến gần.

Gạo Việt Nam

Phơi lúa tại An Giang - Ảnh: Đ.Vịnh

Việt Nam hiện xuất khẩu lúa gạo trị giá 2,9 tỉ đô la mỗi năm, song việc kinh doanh này đang ngày càng gặp nguy hiểm.

Theo Ngân hàng Phát triển châu Á, sản lượng lúa gạo của Việt Nam có thể sút giảm mạnh khi mực nước biển dâng lên nhấn chìm hàng chục ngàn héc-ta đất trồng vào cuối thế kỷ 21.

Do lúa gạo Việt Nam phụ thuộc vào những vùng đất trồng cấy nằm thấp ngang mực nước biển ở những vùng châu thổ sông Mekong và sông Hồng, nên ngay cả khi mực nước dâng lên tương đối nhỏ cũng có thể có những hệ quả tàn khốc cho đất nước này. Điều này gây ra những đe dọa lớn về an ninh lương thực, vì các quốc gia châu Á phụ thuộc rất nhiều vào lúa gạo để nuôi dân.

Rau và trái cây của Tây Ban Nha

Ảnh: Corbis

Theo các nhà khoa học đang thực hiện dự án nghiên cứu được Ủy ban châu Âu cấp vốn, truyền thống ẩm thực của Tây Ban Nha nhờ vào sự phong phú của rau quả nước này. Nhưng nhiệt độ tăng lên sẽ khiến nước này lâm vào tình trạng sa mạc hóa nhanh chóng.

Rượu Vodka của Bắc Âu

Ảnh: Corbis

Thị trường rượu Vodka trên thế giới trị giá 12 tỉ USD hàng năm. Nhưng nhiệt độ tăng ở những nơi như Ba Lan đe dọa các thành phần như khoai tây và lúa mì, theo Văn phòng Khí tượng của Anh. Dự kiến, giá cho một chai vodka sẽ tăng.

Bông của Mali

Ảnh: Getty Images

Theo khảo sát của Oxfam năm nay, lượng mưa ở Mali đã giảm 25% trong 50 năm qua. Một nơi có mùa mưa kéo dài bảy tháng tại nước ở miền tây châu Phi hiện chỉ còn 3 tháng. Nếu không có đủ mưa, các cây bông vải sẽ bị khô trước khi thu hoạch.

Dịch vụ trượt tuyết của Colorado (Mỹ)

Ảnh: Corbis

Là một trong những địa điểm trượt tuyết được ưa thích trên thế giới, khu nghỉ dưỡng Colorado đem lại doanh thu 2 tỷ USD/năm. Nhưng nếu nhiệt độ tiếp tục tăng, các nhà khoa học thuộc Đại học Colorado ở Boulder cảnh báo rằng mùa tuyết rơi có thể bị ngắn hơn một tháng so với hiện nay. Làm tuyết nhân tạo là cả một vấn đề bởi vì làm tuyết đòi hỏi rất nhiều nước.

Du lịch của Maldivies

Ảnh: Corbis

Mỗi năm có 600.000 du khách tới Maldives. Vì vậy, du lịch là một trong những ngành xuất khẩu lớn của quốc đảo ở Ấn Độ Dương - nhưng không có nghĩa là ngành này sẽ tồn tại dài lâu. Nước biển dâng cao sẽ khiến nhiều điểm du lịch tuyệt vời nơi đây chìm dưới đáy đại dương. Tháng trước, tổng thống nước này đã chủ trì một cuộc họp nội các dưới biển nhằm nhấn mạnh thảm họa nước này sẽ gặp phải do biến đổi khí hậu.

HẠNH NGUYÊN (Theo Time)

Lúa gạo tiếp tục giảm giá

TT - Hiện nay một số tỉnh khu vực ĐBSCL bắt đầu thu hoạch lúa đông xuân sớm nên giá lúa gạo đang tiếp tục giảm.

Tuần trước giá lúa dài thường phơi khô tại Bạc Liêu và Cà Mau dao động 5.700-5.800 đồng/kg thì sáng 12-12 chỉ còn 5.500 đồng/kg. Tại huyện Mỹ Tú, Kế Sách và Long Phú (Sóc Trăng), lúa suốt xong chưa phơi thương lái mua giá 4.600-4.800 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg so với tuần trước.

Đối với lúa tài nguyên và một số giống lúa thơm phơi khô hiện dao động 6.600-6.700 đồng/kg, giảm 100-150 đồng/kg. Các vựa gạo ở TP Sóc Trăng (Sóc Trăng) cho biết gạo dài thường hiện còn 8.000-8.200 đồng/kg, giảm 300 đồng/kg.

DUY KHANG

Tạo nên danh tiếng lúa gạo Camargue

Lần đầu tiên nước Pháp vinh danh những người lính thợ Việt:

TT - Buổi lễ tôn vinh chín người Việt đã diễn ra trang trọng và cảm động tại phòng khánh tiết của tòa thị chính thành phố Arles (Pháp) vào ngày 10-12. Họ thuộc trong số ít ỏi những người lính thợ còn sống, dù vào năm 1939 từng có đến 20.000 thanh niên trai tráng người Việt sung lính thợ.

Thị trưởng thành phố Arles, ông Hervé Schiavetti (phải) tặng huy chương cho một người lính thợ Việt sáng 10-12 - Nguồn: Flickr.com

70 năm trước, những thanh niên trai tráng Việt được chiêu mộ sang Pháp để làm lực lượng sung công trong Thế chiến thứ 2. Lịch sử đẩy đưa để một số không thể trở về quê hương. Nhưng họ đã đem đến cho nước Pháp kỹ thuật trồng lúa nước của người Việt...

“Các ông đã đem lại cho chúng tôi món quà tuyệt vời nhất. Vùng Camargue giờ đây có 20.000ha lúa nước và đây là thứ lương thực không hề mất giá”. Vị phó chủ tịch Liên đoàn nông dân trồng lúa ở Camargue, miền nam nước Pháp, gửi lời cảm ơn chân tình đến những người Việt từng là lính thợ năm 1939.

Chào cờ ở trại Venissieux, ảnh chụp năm 1943 - Ảnh của ông Phạm Văn Nhân

Những người lính thợ làm việc trong xưởng đạn pháo ở Pháp

Lính thợ Việt Nam cấy lúa ở Camargue - Ảnh của ông VŨ QUỐC PHAN

Chuyện chưa từng có

“Các ông đã đem lại cho vùng đất này sự giàu có, chúng tôi xin chân thành cảm ơn vì điều đó” - thị trưởng thành phố Arles, ông Hervé Schiavetti, nói trước cử tọa gồm những người lính thợ, những người bạn Pháp yêu quý Việt Nam trước khi trao huy chương của thành phố cho chín người đàn ông Việt Nam.

Nhiều phương tiện truyền thông ở Pháp nhìn nhận đây là sự kiện chưa từng có bởi lẽ hơn 60 năm qua, nhiều chính quyền ở Pháp muốn né tránh việc nhìn nhận công sức của những người lính thợ và lính tập Việt Nam đóng góp cho nước Pháp. Ông Gilles Manceron, nhà sử học kiêm phó chủ tịch Liên đoàn Nhân quyền, nói với báo La Provence: “Theo hiểu biết của tôi, đây là lần đầu tiên có một địa phương vinh danh theo cách này. Đây là sự kiện đầu tiên ở nước Pháp. Cho đến lúc này, nước Pháp chỉ giữ thái độ vờ như không biết hoặc khinh bỉ. Con đường dẫn đến việc tôn vinh như ngày hôm nay quả thật là dài và khó khăn”.

Nhưng sự thật lịch sử không thể chối bỏ. Bởi vẫn còn đó những con người thật việc thật, những hậu duệ của họ và những tư liệu không thể chối cãi. Trong buổi lễ diễn ra ngày 10-12, hầu hết những người đến dự đều đem theo tư liệu hoặc những tấm ảnh thời xưa. Có những người đến không chỉ để chia vui mà còn để tìm hiểu gốc gác cha mình. Chuyên gia tin học Serge Đặng Hà 55 tuổi nhớ lại: “Cha tôi qua đời khi tôi mới lên chín. Tôi phải vào sống trong trại mồ côi. Chỉ đến gần đây tôi mới đặt ra những câu hỏi về gốc gác của cha mình”.

Những người lính thợ Việt ngồi bên trái lắng nghe thị trưởng Hervé Schiavetti phát biểu tại buổi lễ trao huy chương ở tòa thị chính Arles - Ảnh: Flickr

Những ngày gian khó

Câu chuyện của những con người được vinh danh là câu chuyện của một thời trai trẻ đầy nhiệt huyết, ưa khám phá và cả bồng bột. Ông Phạm Văn Nhân, từng là thông dịch viên của nhóm lính thợ, nhớ lại: “Lúc đó tôi thấy hạnh phúc khi được khám phá nước Pháp, đất nước mà tôi chỉ biết qua sách vở. Nhưng khi đặt chân đến Marseille, nơi ở của chúng tôi lại là nhà tù Baumettes”.

Trong số 20.000 lính thợ được đưa sang Pháp, 1.000 người đã bị chuyển đến Camargue để làm lúa và làm muối. Sau chiến tranh, phần lớn trong số họ hồi hương. Nhưng khoảng 1.000 người đã thiệt mạng trên đường đi và 1.000 người quyết định ở lại nước Pháp vì nhiều lý do. Hiện trong số lính thợ ấy chỉ còn khoảng 100 người sinh sống ở Việt Nam và 10 người còn sống ở Pháp.

Nhà tù lúc đó vừa xây xong nên được trưng dụng làm chỗ ở tạm cho những người lính thợ trước khi họ được phân chia đi khắp các xưởng vũ khí của Pháp. Cứ sáu người chui rúc trong một buồng giam chật hẹp. Họ bắt đầu vỡ mộng thật sự sau một tháng lênh đênh trên biển, “nằm như cá mòi dưới hầm tàu” từ Việt Nam sang Pháp.

Tiếp đó là những tháng ngày bán sức lực trong các xưởng vũ khí độc hại và nguy hiểm. Họ - những người lính thợ Việt Nam - phải làm những công việc nguy hiểm và độc hại nhất trong các công xưởng ấy với mức lương “chỉ bằng 1/10 lương trung bình của công nhân Pháp” (www.travailleurs-indochinois.org).

Năm 1941, chiến tranh lan sang châu Á nên nước Pháp mất nguồn cung cấp gạo. Chính phủ Vichy quyết định mở khu trồng lúa ở Camargue và trưng dụng 500 lính thợ Việt. Ông Lê Văn Phu, người từng phải trồng lúa và làm muối ở Giraud, kể lại: “Kẻ thù của chúng tôi không chỉ là muỗi mòng mà còn là sự đói khát, thiếu thốn quần áo, giày vớ và nhất là nỗi nhớ quê nhà”. Thế nhưng, vốn là những nông dân chân chất, họ đã lao vào làm việc và gầy dựng nên những đồng lúa xanh mượt ở Camargue - nơi người Pháp trước đó từng trồng lúa nhưng chỉ nhằm mục đích ngọt hóa các cánh đồng bị nước mặn xâm lấn. Năm 1942, khi có bàn tay những người lính thợ Việt, người ta đã thu hoạch được 180 tấn lúa và hai năm sau lên đến 2.200 tấn.

Những người lính thợ Việt đã làm thay đổi một vùng quê nước Pháp, nếu không muốn nói là làm giàu cho người dân ở đấy nhưng họ đã không được đối xử và trả công xứng đáng. Đã có những tiếng nói phản ứng từ những người lính thợ giờ đây bước sang tuổi 90. Thậm chí có người như ông Lê Hữu Thọ đã không kịp đến dự lễ tôn vinh vì ông đã qua đời vào tháng 9 vừa qua.

Tuy vậy bài diễn văn mà ông chuẩn bị để đọc trong buổi lễ đã được con gái ông, bà Myriam Le Hữu, đọc thay cha. Ông Thọ viết: “Giờ đây tôi đã vất hết xuống sông Rhône mọi nỗi oán giận lẫn thất vọng”. Tuy vậy ông không quên nhắc lại những gì mình đã tranh đấu trong những năm cuối đời: “Nhiều người dân Arles đã làm giàu từ lúa gạo. Và cho đến năm nay (2009), cứ đến mùa lễ hội lúa gạo, tôi đều yêu cầu người ta phải nêu tên những người lao động Việt Nam nhưng câu trả lời luôn là “để sang năm tính xem sao’”.

Ông Thọ đã kịp vất những nỗi buồn xuống dòng sông nước Pháp để thanh thản ra đi. Có lẽ giờ đây nơi chín suối, ông cũng có thể mỉm cười khi thị trưởng Hervé Schiavetti tuyên bố khi trao huy chương: “Đây là sự thừa nhận dù chậm trễ nhưng thật lòng và đích thực”.

THANH LIÊM tổng hợp

“Cái đói, cái khát và những nỗi khổ nhục”

Những người tưởng chừng biết rõ lịch sử Thế chiến thứ 2 hẳn sẽ ngạc nhiên khi biết về sự tham gia của 20.000 lính thợ người Việt và 15.000 lính tập gốc nông dân được huy động để hỗ trợ nước Pháp trong cuộc chiến những năm 1939-1940. (...) Giờ đây chẳng ai còn nhớ về chuyện đó...

Sau khi Pháp đầu hàng vào tháng 6-1940, chúng tôi, 20.000 người, bị phó mặc trước khi tìm được đường đến vùng Provence và Midi-Pyrénées, nơi khí hậu dễ chịu hơn. Hồi năm 1939, tôi mới 20 tuổi và là một trong những thông dịch của lính thợ. Tôi cũng chịu cùng số phận hẩm hiu của họ: đói khát, nghèo túng, bị sỉ nhục, bị đối xử thậm tệ và bị dằn vặt vì nỗi nhớ quê nhà. Tôi thuộc trong số 10% lính thợ và lính tập người Việt chọn lựa ở lại Pháp. Hơn 1.000 người đã chết ở đất nước này, xa quê hương đất tổ.

Tôi nhớ vào năm 1938, trước chiến tranh, Pháp nhập mỗi năm 600.000 tấn gạo từ châu Á, trong đó 80% từ Việt Nam. Sau thất bại tháng 6-1940, Pháp cũng mất đi nguồn cung cấp gạo. Vì thế vào năm 1941, chính phủ Vichy đã quyết định tận dụng nguồn lính thợ Việt để làm lúa ở Pháp. Thế là ngay giữa thời chiến, 225 lao động Việt Nam của đại đội 25 được đưa đến Camargue. Họ vốn là những nông dân giỏi ở Việt Nam. Đó là khởi đầu của lịch sử lúa nước tại Camargue.

(...) Lúa giống thì chúng tôi đi tìm mua ở Piémont (Ý). Những người nông dân Việt đã thuần hóa được số lúa giống đó bằng những kỹ thuật của cha ông mình và đem lại thành công nhanh chóng cho các đồng lúa ở Camargue. Mùa thu hoạch đầu tiên vào tháng 9-1942, chúng tôi làm được 180 tấn trên 50ha. Sang năm 1943, vụ mùa đem về 600 tấn trên 230ha. Sang năm sau là 2.200 tấn từ 800ha. Điều kỳ diệu đó đã kéo dài đến năm 1960 khi nước Pháp tái lập chuyện mua bán gạo với khu vực Đông Nam Á, nơi người ta làm lúa được ba vụ mỗi năm.

Thế nhưng ở thời Đức chiếm đóng, lúa gạo quý như vàng. Thời đó người ta đổi 1kg lúa lấy 50kg ximăng. Nhiều người dân Arles đã giàu lên từ vài hecta đất trồng lúa. Thế mà đến ngày hôm nay, mỗi dịp lễ hội lúa gạo ở Arles vào tháng chín, chẳng ai chịu nhớ ơn hoặc trả lại công bằng cho những người đồng hương của tôi đã đem lại tiếng thơm cho vùng Camargue. Việc thừa nhận chính thức đó là chuyện quá dễ làm. Nó vinh danh cho vùng đất này và càng góp phần gìn giữ tình bằng hữu Pháp - Việt”.

(Trích từ cuốn sách Hành trình của một ông quan bé của ông Lê Hữu Thọ
- NXB L’Harmattan, 1996)

________________

Pierre Daum - người chọn sự thật lịch sử

Câu chuyện về những người lính thợ và lính tập đến từ Việt Nam đã được “xới” lại ở Pháp mạnh mẽ hơn kể từ sau cuốn sách thể loại điều tra của nhà báo Pháp Pierre Daum xuất bản hồi tháng 5-2009 (NXB Solin).

Nhà báo Pháp Pierre Daum

Nhà báo tự do 43 tuổi này tình cờ phát hiện câu chuyện những người lính thợ Việt khi ông đến Arles làm một phóng sự năm 2004. Từ đó ông thu thập tư liệu và tìm gặp nhân chứng tại Pháp lẫn Việt Nam.

Tổng cộng 11 người ở Pháp và 14 người ở Việt Nam đã xuất hiện trong cuốn Những người bị cưỡng bức nhập cư - những người lính thợ Đông Dương tại Pháp, 1939-1952. Ông muốn sự thật lịch sử phải được nhìn nhận đúng.

Trong buổi lễ tại Arles, nhà báo - nhà văn Pierre Daum cũng có buổi trò chuyện quanh cuốn sách của mình. Ông nhấn mạnh: “Đây là lần đầu tiên một lãnh đạo chính trị ở nước Cộng hòa Pháp nhìn nhận trang đen tối đó của lịch sử đô hộ thuộc địa”.

T.LIÊM

Tác phẩm Hạt ngọc đoạt giải nhất

TT - Chiều 10-11, ban tổ chức cuộc thi ảnh nghệ thuật nằm trong khuôn khổ Festival lúa gạo Việt Nam lần 1 đã công bố kết quả. Giải nhất thuộc về tác phẩm Hạt ngọc của Duy Bằng (Long An), hai giải nhì thuộc về tác phẩm Nhộn nhịp ngày mùa của Trương Ánh Hồng (Cần Thơ) và tác phẩm Cứu lúa vụ ba của Thảo Nguyên (Ðồng Tháp).

Tác phẩm Hạt ngọc của Duy Bằng (Long An) đoạt giải nhất

Ngoài ra ban tổ chức còn trao bốn giải ba và 10 giải khuyến khích.

Ðây là lần đầu tiên một cuộc thi ảnh nghệ thuật được tổ chức với chủ đề lúa gạo nhằm tôn vinh nền văn minh lúa nước, quảng bá thương hiệu lúa gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế cũng như đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa gạo ở nước ta.

Cuộc thi đã thu hút được 866 tác phẩm màu và đen trắng của 172 tác giả. Lễ trao giải và khai mạc triển lãm sẽ được tổ chức vào ngày 28-11 tại Trung tâm Triển lãm tỉnh Hậu Giang.

HOÀNG THẠCH VÂN

Tháo nút thắt đầu ra cho lúa gạo

TT - Tỉnh Hậu Giang vừa được Thủ tướng Chính phủ cho phép phối hợp với các bộ, ngành tổ chức Festival lúa gạo VN vào tháng 11-2009. Đây là festival đầu tiên về lúa gạo với sự tham dự của nhiều quốc gia trong khu vực.

Gạo VN xuống tàu để xuất sang Philippines (ảnh chụp tại bến phao 39, sông Nhà Bè, TP.HCM) - Ảnh: H.T.Vân

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Phong Quang - bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang - cho biết:

- Việc tổ chức Festival lúa gạo VN xuất phát từ mục đích tôn vinh nền văn minh lúa nước, phát huy tiềm năng, thế mạnh sản xuất nông nghiệp VN; đẩy mạnh sản xuất, mở rộng giao thương buôn bán lúa gạo góp phần thực hiện và cụ thể hóa nghị quyết trung ương 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đặc biệt chúng tôi muốn thông qua festival lần này xây dựng thương hiệu lúa gạo VN, đưa hạt gạo VN vươn xa hơn ra thế giới.

Ông Nguyễn Phong Quang - Ảnh: P.N.
* Nhiều năm qua VN luôn nằm trong tốp các nước dẫn đầu về xuất khẩu gạo, nhưng quốc tế chưa biết nhiều về hạt gạo VN, nông dân vẫn gặp khó vì chúng ta chưa có thương hiệu gạo?

- Chưa kể khu vực đồng bằng sông Hồng, khu vực đồng bằng miền Trung, chỉ riêng khu vực ĐBSCL mỗi năm sản xuất bình quân trên 20 triệu tấn lúa, nhưng lâu nay hạt gạo của chúng ta xuất khẩu ra thế giới vẫn chưa có thương hiệu, đời sống bà con nông dân vẫn khó khăn, điệp khúc được mùa, mất giá cứ tái diễn...

Vì vậy, festival lúa gạo lần này ngoài chuyện tôn vinh, quảng bá hạt gạo, điểm nhấn quan trọng mà chúng tôi nhắm đến là mời các chuyên gia nước ngoài có kinh nghiệm để giải quyết cho được việc xây dựng thương hiệu gạo VN, giúp hạt gạo VN vươn ra xa hơn nữa với thị trường quốc tế. Giải quyết được thương hiệu là giải quyết được “nút thắt” đầu ra cho lúa gạo VN, giúp nông dân sản xuất có lãi.

* Thưa ông, ngoài việc xây dựng thương hiệu, vấn đề nâng cao chất lượng lúa gạo VN có được tính đến qua festival lần này?

- Một trong những nguyên nhân khiến gạo xuất khẩu của VN chưa được giá là do chất lượng gạo chưa đồng đều. Ngay như ĐBSCL vựa lúa của cả nước nhưng từ bao đời bà con nông dân quen với tập quán trữ lúa bằng bao chất đống trong nhà, không có hệ thống kho chứa nên sau thu hoạch vài tháng lúa chưa thể bán được là bị ẩm mốc, chất lượng gạo giảm.

Tại festival lần này, thông qua các cuộc hội thảo với sự tham gia của lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, chúng tôi muốn gửi đến các doanh nghiệp thông điệp hãy giúp các tỉnh và cùng phối hợp với các tỉnh xây dựng hệ thống kho chứa lúa để đảm bảo chất lượng lúa cho nông dân. Riêng tại Hậu Giang chúng tôi, nhận rõ điểm yếu này từ nhiều tháng nay đã xúc tiến cùng với Tổng công ty Lương thực miền Nam xây dựng ba kho chứa sức chứa khoảng 200.000 tấn. Hệ thống kho chứa này sẽ hoàn thành vào cuối năm nay hoặc đầu năm 2010, giải quyết được 30-40% lượng lúa hàng hóa của tỉnh.

* Có ý kiến cho rằng Hậu Giang không phải là tỉnh trọng điểm lúa của vùng ĐBSCL, lại là tỉnh mới tách, cơ sở hạ tầng chưa tốt nên sẽ gặp khó khi đứng ra tổ chức một festival lúa gạo tầm quốc tế?

- Đúng là Hậu Giang là tỉnh mới tách ra từ Cần Thơ, còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, chúng tôi đề xuất với Thủ tướng cho tổ chức festival lần này xuất phát từ lợi ích quốc gia, từ thực tế bức xúc lâu nay của hàng triệu nông dân VN làm ra lúa gạo nhưng luôn thua thiệt. Hiện tại mọi công việc chuẩn bị khá chu đáo, sẵn sàng cho ngày khai mạc festival.

Còn nói Hậu Giang không phải là vùng trọng điểm lúa là chưa đúng. Hậu Giang có sản lượng lúa thấp hơn một vài tỉnh nhưng nằm ở tiểu vùng sông Hậu, có kênh xáng Xà No là nơi vận chuyển giao thương buôn bán lúa gạo từ cả trăm năm nay.

Sẽ tái hiện về sản xuất lúa gạo

Festival lúa gạo VN lần thứ nhất dự kiến khai mạc từ ngày 26 đến 30-11-2009. Dự kiến có khoảng 300 gian hàng của các doanh nghiệp, địa phương trong nước và quốc tế tham gia hội chợ triển lãm giới thiệu các hoạt động liên quan đến lúa gạo, nông sản như: triển lãm ảnh nghệ thuật về lúa gạo, triển lãm nông ngư cụ thời khẩn hoang đến hiện tại, tái hiện về sản xuất lúa gạo và nông thôn; các gian hàng lúa gạo và ngành lương thực VN, quốc tế; cây giống, các loại máy nông ngư cơ, máy móc chế biến lúa gạo.

Bốn cuộc hội thảo với sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia quốc tế, nhà quản lý, lãnh đạo các tỉnh, thành, doanh nghiệp kinh doanh lương thực gồm: hội thảo lúa gạo VN xuất khẩu và hội nhập, kênh xáng Xà No - con đường lúa gạo miền Hậu Giang, hội thảo về văn minh lúa nước và hội thảo xúc tiến đầu tư.

HOÀNG TRÍ DŨNG thực hiện

Thúc đẩy hạt lúa tiến hóa nhanh hơn

TTCT - Giá gạo tăng cao ảnh hưởng đến nhiều quốc gia. Tại Philippines, Viện nghiên cứu lúa quốc tế đang tìm những biện pháp mới để góp phần giải quyết nạn đói trên toàn cầu.

Trồng thử nghiệm lúa lai tại IRRI - Ảnh: ufz.de

“Năm 2007 giá 1 tấn gạo chỉ vào khoảng 300 USD, năm 2008 đã lên đến 1.180 USD, hiện giờ vẫn còn khoảng 550 USD - nhà kinh tế xã hội học người Ấn Độ Samarendu Mohanty của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) ở Los Banos, Philippines, nói - Nếu như không có thay đổi về cơ bản thì một lúc nào đó chúng ta sẽ đi đến thảm họa”.

Tăng gấp đôi sản lượng để nuôi 9 tỉ người

Trên sàn giao dịch gạo thời gian gần đây, chỉ trong một ngày giá gạo đã dao động bằng cả một năm trước, theo quan sát của ông Mohanty. Toàn bộ hệ thống dường như đang lung lay. Nối tiếp cơn sốc dầu hỏa là bong bóng đầu cơ và các cuộc khủng hoảng lương thực, tài chính và kinh tế thế giới. Tất cả dẫn đến một phản ứng dây chuyền tai hại: ngày càng có nhiều quốc gia đóng kín thị trường, những nước như Ấn Độ đã dự trữ một lượng gạo khổng lồ và qua đó làm tăng sức cầu.

“Sự kết hợp nguy cơ từ suy thoái kinh tế và giá lương thực thực phẩm liên tục ở mức cao đã đẩy thêm tròn 100 triệu người vào vòng nghèo đói so với năm 2008” - ông Jacques Diouf, giám đốc Tổ chức Lương nông của Liên Hiệp Quốc (FAO), từng cảnh báo trong tháng 6 vừa qua và đưa ra nhiều con số gây sốc.

Theo đó, hiện thế giới có trên 1 tỉ người đói ăn, nhiều nhất là châu Á với 640 triệu người. Và vẫn chưa biết được bao giờ thảm kịch này sẽ kết thúc. Hạn hán, ngập lụt hay nóng bức xuất hiện ngày càng nhiều và dân số thế giới ngày càng tăng đều góp phần làm tình trạng này thêm căng thẳng. Hiện nay có 6,8 tỉ người sống trên hành tinh, nhưng 40 năm nữa sẽ có trên 9 tỉ người. Theo FAO, để cung cấp đủ lương thực cho tất cả mọi người thì sản lượng lúa mì, bắp, khoai tây hay gạo phải tăng gấp đôi cho đến năm 2050.

Trong những lúc như thế này, người ta thường nhìn về Los Banos. Các chuyên gia về lúa có nhiều kinh nghiệm nhất đang tập trung ở IRRI. Los Banos thuộc vùng ngoại ô của thủ đô Manila, có trên 250ha đất nghiên cứu và một bộ sưu tập trên 110.000 giống lúa. Được tài trợ chủ yếu từ Quỹ Rockefeller và Quỹ Ford, IRRI ra đời năm 1960 nhằm giải quyết các vấn đề về cung cấp lương thực của thế giới.

Các chuyên gia của IRRI đã có lần giúp thế giới tránh được một thảm họa. Năm 1966, các nhà khoa học ở Los Banos phát triển giống lúa có năng suất cao IR8 và qua đó đã đứng vào hàng đầu của cái gọi là cuộc Cách mạng xanh. Nhờ IR8, sản lượng thu hoạch đã tăng gấp đôi, giúp thế giới vượt qua được cuộc khủng hoảng lương thực đầu những năm 1970.

Hiện nhiều người đang hi vọng vào một điều kỳ diệu tương tự diễn ra. Theo tính toán của các nhà khoa học IRRI, hằng năm thế giới phải sản xuất thêm 10 triệu tấn gạo để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Người ta đã không đạt đến con số này từ nhiều năm nay.

Phần lớn chuyên gia đều thống nhất thế giới không còn nhiều đất để trồng thêm lúa nữa. Ít nhất là hiện giờ, vì trên lý thuyết châu Phi có thể giúp giải quyết phần nào trong vấn đề cung ứng. Thế nhưng, cho đến bao giờ hạ tầng cơ sở trên châu lục này vẫn trong tình trạng tệ hại, và châu Phi vẫn dựa vào tiền viện trợ phát triển thay vì trao đổi hàng hóa thì vựa lúa châu Phi vẫn chỉ là ước mơ. Có triển vọng nhiều hơn là cải thiện các phương pháp hiện tại.

Các chuyên gia IRRI dự tính những thất thoát sau thu hoạch khoảng 10-30%: do bảo quản không đúng cách, do côn trùng hay chim chóc. Vì thế, họ đã phát triển nhiều dụng cụ rẻ tiền như nhiệt kế hồng ngoại để giúp nông dân trồng lúa giảm thiểu thất thoát.

Những thành công gần đây trong phát triển giống lúa Swarna Sub-1 cũng mang lại nhiều hi vọng. Giống lúa này có thể sống đến 17 ngày dưới nước, đặc biệt thích hợp cho những quốc gia thường xuyên bị ngập lụt như Bangladesh hay Ấn Độ. Một kỹ thuật trồng lúa mới cần ít hơn 25% lượng nước cũng đang được phát triển, có thể áp dụng cho những vùng đất khô hạn, giúp ích cho các nhà nông ở Úc thường xuyên phải chịu đựng hạn hán.

Lần theo dấu vết của tiến hóa

Một dự án quốc tế khác vừa nhận được số tiền tài trợ 11 triệu USD từ Quỹ Bill & Melinda Gates để tạo ra giống lúa mới có khả năng thực hiện quang hợp C4. Quang hợp ở thực vật C4 có hiệu suất cao hơn 50% so với thực vật C3 như lúa. Một vài loài như bắp hoặc mía đã phát triển từ C3 sang C4 đạt hiệu suất cao trong quá trình tiến hóa.

Các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết được thiên nhiên đã làm điều đó như thế nào. Vì thế, trước tiên họ muốn biến đổi những thực vật C4 như lúa trở về thực vật C3 để so sánh với giống lúa thông thường. “Nếu như chúng tôi khám phá được những gen nào gây ra thay đổi này và tạo được một giống lúa C4 thì có thể sản xuất thêm 50% gạo” - nhà khoa học John E. Sheehy của IRRI tin như vậy. Ông chính là người đang thúc đẩy dự án nghiên cứu C4.

Cũng như phần lớn đồng nghiệp, ông Sheehy cho rằng những quan ngại về công nghệ biến đổi gen chỉ là lo âu vô cớ. “Chúng tôi đang lần theo dấu vết của tiến hóa - ông nói - Và cuối cùng cũng không còn khả năng nào khác để tăng sản xuất lương thực một cách có hiệu quả”.

Nhà khoa học nông nghiệp Achim Dobermann cũng cùng quan điểm: “Chúng tôi chỉ giúp sự tiến hóa diễn ra nhanh hơn mà thôi. Những việc mà chúng tôi có thể thực hiện trong vòng vài năm thì thiên nhiên lại cần đến hàng triệu năm. Và bây giờ chúng ta không còn thời gian nữa”.

PHAN BA (Theo Spiegel Wissen)